Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý Thầy,Cô có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
THÔNG TIN MỚI
phương pháp dạy học tích cực
I. Thế nào là phương pháp dạy học tích cực?
1. Phương pháp dạy học tích cực
Luật giáo dục ( điều 28) yêu cầu: Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với từng đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.
Như vậy có thể coi việc chuyển từ dạy học lấy giáo viên làm trung tâm của quá trình dạy học sang dạy học định hướng vào người học ( dạy học định hướng học sinh), phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh là quan điểm lý luận dạy học có tính định hướng chung cho việc đổi mới phương pháp dạy học.
2. Đặc điểm của phương pháp dạy học tích cực :
+ Dạy học thông qua tổ chức hoạt động học tập của học sinh.
+ Dạy học chú trọng phương pháp tự học.
+ Tăng cường học tập cá thể, phối hợp học tập hợp tác.
+ Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.
3. Một số phương pháp dạy học tích cực cần được phát triển ở trường phổ thông:
+ Vấn đáp tìm tòi.
+ Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề.
+ Dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ.
+ Dạy học theo dự án.
II. Các phương pháp dạy học tích cực
1. Dạy học nhóm
1.1. Khái niệm
Dạy học nhóm là hình thức xã hội của dạy học, trong đó học sinh của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc. Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp.
Số lượng học sinh trong nhóm thường khoảng 4-6 học sinh. Nhiệm vụ của các nhóm có thể giống nhau hoặc mỗi nhóm nhận nhiệm vụ khác nhau, là các phần trong chủ đề chung.
1.2. Tiến trình dạy học nhóm
Chia thành 3 giai đoạn cơ bản:
a. Nhập đề và giao nhiệm vụ
Giai đoạn này được thực hiện trong toàn lớp, gồm những hoạt động sau:
+ Giới thiệu chủ đề chung của giờ học: thông thường giáo viên thực hiện nhiệm vụ giới thiệu chủ đề, nhiệm vụ chung cũng như những chỉ dẫn cần thiết, thông qua thuyết trình, đàm thoại hay làm mẫu. Việc này cũng có thể giao cho học sinh trình bày nếu có sự thống nhất và chuẩn bị trước của giáo viên.
+ Xác định nhiệm vụ của các nhóm: xác định và giải thích nhiệm vụ cụ thể của các nhóm, xác định rõ mục tiêu cụ thể cần đạt được. Các nhiệm vụ này có thể giống nhau hoặc khác nhau.
+ Thành lập các nhóm làm việc: có rất nhiều phương án thành lập nhóm khác nhau. Tùy theo mục tiêu dạy học để quyết định cách thành lập nhóm.
b. Làm việc nhóm
Giai đoạn này các nhóm tự lực thực hiện nhiệm vụ được giao, trong đó có những hoạt động chính sau:
+ Chuẩn bị chỗ làm việc nhóm: cần sắp xếp bàn ghế phù hợp với công việc nhóm, sao cho các thành viên có thể đối diện nhau để thảo luận.
+ Lập kế hoạch làm việc:
- Chuẩn bị tài liệu học tập;
- Đọc sơ qua tài liệu học tập;
- Làm rõ xem tất cả mọi người có hiểu các yêu cầu của nhiệm vụ hay không
- Phân công công việc nhóm;
- Lập kế hoạch thời gian;
+ Thỏa thuận về quy tắc làm việc:
- Mỗi thành viên đều có phần nhiệm vụ của mình;
- Từng người ghi lại kết quả làm việc
- Mỗi người lắng nghe ý kiến của người khác
- Không ai được ngắt lời người khác
+ Tiến hành giải quyết nhiệm vụ:
- Đọc kỹ tài liệu
- Cá nhân thực hiện công việc đã phân công
-Thảo luận trong nhóm về việc giải quyết nhiệm vụ
- Sắp xếp kết quả công việc,
+ Chuẩn bị báo cáo kết quả trước lớp
- Xác định nội dung, cách trình bày kết quả
- Phân công nhiệm vụ trình bày trong nhóm.
- Làm các hình ảnh minh họa
- Quy định tiến trình bài trình bày
c. Trình bày và đánh giá kết quả
+ Đại diện nhóm trình bày kết quả trước toàn lớp. Có thể trình bày thông qua biểu diễn hoặc trình bày mẫu kết quả của nhóm.
+ Kết quả của nhóm được đánh giá và rút ra cho việc học tập tiếp theo.
1.3. Ưu điểm và nhược điểm của dạy học nhóm
- Ưu điểm
+ Phát huy tính tích cực, tự lực, tính trách nhiệm của học sinh
+ Phát triển năng lực cộng tác làm việc như: tinh thần đồng đội, sự quan tâm đến những người khác, tính khoan dung.
+ Phát triển năng lực giao tiếp như: biết lắng nghe, chấp nhận và phê phán ý kiến người khác, biết trình bày, bảo vệ ý kiến của mình trong nhóm.
+ Hỗ trợ quá trình học tập mang tính xã hội.
+ Tăng cường sự tự tin cho học sinh.
+ Phát triển năng lực phương pháp làm việc.
+ Dạy học nhóm tạo khả năng dạy học phân hoá: lựa chọ nhóm theo hứng thú chung hay lựa chọn ngẫu nhiên.
+ Tăng cường kết quả học tập .
- Nhược điểm
+ Dạy học nhóm đòi hỏi thời gian nhiều. Thời gian 45 phút của 1 tiết cũng là trở ngại cho việc dạy học nhóm.
+ Công việc nhóm không phải bao giờ cũng mang lại kết quả mong muốn
+ Trong các nhóm chưa được luyện tập dễ xảy ra hỗn loạn. Ví dụ, có thể xảy ra việc một học sinh phụ trách nhóm theo kiểu độc đoán, thành viên trong nhóm không làm bài mà quan tâm đến những việc khác, trong nhóm phát sinh tình trạng đối địch…..
1.4. Chỉ dẫn đối với giáo viên
Muốn thành công trong dạy học nhóm, giáo viên phải nắm vững phương pháp thực hiện. Dạy học nhóm đòi hỏi giáo viên phải có năng lực lập kế hoạch, tổ chức, còn học sinh phải có sự hiểu biết về phương pháp, được luyện tập và thông thạo cách học này.
1.5. Ứng dụng dạy học nhóm
Áp dụng để đi sâu, vận dụng, luyện tập, củng cố một chủ đề đã học, nhưng cũng có thể để tìm hiều một chủ đề mới.
Trong hóa học, dạy học nhóm có thể được sử dụng để tiến hành các thí nghiệm, giải bài tập nhiều cách.
2. Dạy học giải quyết vấn đề.
2.1. Khái niệm vấn đề và giải quyết vấn đề
Vấn đề là những câu hỏi hay nhiệm vụ đặt ra mà việc giải quyết chúng chưa có quy luật sẵn cũng như những tri trức, kỹ năng sẵn có chưa đủ giải quyết mà còn khó khăn, cản trở cần vượt qua.
Một vấn đề được đặc trưng bởi ba thành phần:
+ Trạng thái xuất phát: không mong muốn.
+ Trạng thái đích: trạng thái mông muốn.
+ Sự cản trở.
Tình huống có vấn đề xuất hiện khi một cá nhân đứng trước một mục đích muốn đạt tới, nhận biết một nhiệm vụ cần giải quyết nhưng chưa biết bằng cách nào, chưa đủ phương tiện để giải quyết.
Dạy học giải quyết vấn đề dựa trên cơ sở lý thuyết nhận thức. Theo quan điểm của tâm lý học nhận thức, giải quyết vấn đề có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển tư duy và nhận thức của con người, tư duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề.
Dạy học giải quyết vần đề là một quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề của học sinh. Học sinh được đặt trong một tình huống có vấn đề, thông qua việc giải quyết vấn đề đó giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp nhận thức.
2.2. Cấu trúc của quá trình giải quyết vấn đề.
+Nhận biết vấn đề: trong bước này cần phân tích tình huống đặt ra, nhằm nhận biết được vấn đề. Trong dạy học đó là cần đặt học sinh vào tình huống có vấn đề. Vấn đề cần được trình bày rõ ràng
+Tìm các phương án giải quyết:
Nhiệm vụ của bước này là tìm các phương án khác nhau để giải quyết vấn đề. Để tìm các phương án giải quyết vấn đề cần so sánh, liên hệ với những cách giải quyết vấn đề tương tự đã biết cũng như tìm các phương án giải quyết mới.
Các phương án giải quyết đã tìm ra được sắp xếp, hệ thống hóa để xử lý ở giai đoạn tiếp theo.
+ Quyết định phương án giải quyết:
Các phương án giải quyết đã được tìm ra cần được phân tích, so sánh và đánh giá xem có thực hiện được việc giải quyết vấn đề hay không. Nếu có nhiều phương án có thể giải quyết thì cần so sánh để xác định phương án tối ưu. Nếu các phương án đã đề xuất chưa giải quyết được vấn đề thì cần trở lại giai đoạn tìm kiếm phương án giải quyết mới.
2.3. Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề
Có thể kết hợp dạy học giải quyết vấn đề với phương pháp dạy học thuyết trình, đàm thoại để giải quyết vấn đề.
Các mức độ vận dụng:
+ Mức độ thấp nhất là: giáo viên thuyết trình theo quan điểm dạy học giải quyết vấn đề nhưng toàn bộ các bước trình bày vấn đề do giáo viên thực hiện.
+ Mức độ cao hơn là học sinh tham gia từng phần vào các bước giải quyết vấn đề.
+ Mức độ cao nhất: học sinh độc lập giải quyết vấn đề, thực hiện tất cả các bước của giải quyết vấn đề.
3. Dạy học theo dự án.
a. 5 giai đoạn của dạy học theo dự án:
+ Chọn đề tài và xác định mục đích của dạy họcdự án: giáo viên và học sinh cùng nhau đề xuất đề tài. Thường là giáo viên đưa một số đề tài để học sinh lựa chọn
+ Xây dựng kế hoạch thực hiện: giáo viên hướng dẫn học sinh xây dựng đề cương cũng như kế hoạch cho việc thực hiện dự án.
+ Thực hiện dự án: các thành viên thục hiện công việc theo kế hoạch đã đề ra cho nhóm và cá nhân. Trong giai đoạn này học sinh thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, thực hành.
+ Thu thập kết quả và công bố sản phẩm: kết quả thực hiện dự án có thể được viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo, luận văn, có thể cả sản phẩm
+ Đánh giá dự án: giáo viên, học sinh đánh giá quá trình thực hiện và kết quả cũng như kinh nghiệm đạt được. Từ đó rút ra kinh nghiệm cho thực hiện dự án tiếp theo.
Việc phân chia các giai đoan trên đây chỉ mang tính chất tương đối. Trong thực tế chúng xen kẽ và thâm nhập vào nhau.
- Ưu điểm và nhược điểm của dạy học dự án
+ Ưu điểm:
- Gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội.
- Phát huy tính tích cực và tính trách nhiệm
- Phát triển khả năng sáng tạo
- Rèn luyện năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp
- Rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn
- Rèn luyện năng lực cộng tác làm việc
- Phát triển năng lự đánh.
+ Nhược điểm:
- Không phù hợp trong việc truyền thụ tri thức lý thuyết mang tính trừu tượng, hệ thống cũng như hệ thống kỹ năng cơ bản.
- Dạy học dự án đòi hỏi nhiều thời gian. Vì vậy dạy học dự án không thể thay thế cho phương pháp thuyết trình và bài tập, mà là hình thức bổ sung cần thiết cho các phương pháp dạy học truyền thống.
- Dạy học dự án đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp.
4. Sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học hóa học theo hướng dạy học tích cực.
Phương tiện trực quan phải được sử dụng để điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh.
Phương tiện trực quan bao gồm:
+ Mô hình, tranh vẽ, biểu bảng.
+ Phương tiện dạy học (kỹ thuật).
+ Thí nghiệm mô phỏng.
4.1.Sử dụng thí nghiệm theo hướng dạy học tích cực.
Sử dụng thí nghiệm theo hướng tích cực là thí nghiệm cung cấp kiến thức, phương tiện để học sinh khai thác, tìm tòi theo phương pháp kiểm chứng, phương pháp nghiên cứu….
- Sử dụng thí nghiệm theo phương pháp nghiên cứu.
+ Giáo viên nêu đề tài nghiên cứu.
+ Học sinh chủ động, độc lập, trực tiếp tác động vào đối tượng nghiên cứu.
b. Sử dụng thí nghiệm đối chứng, kiểm chứng.
Mục đích: nhằm rút ra kết luận chính xác, đầy đủ hơn về quy tắc, tính chất nào đó của chất.
Quy trình thí nghiệm hóa học để kiểm chứng kiến thức:
+ Giáo viên nêu mục đích thí nghiệm và yêu cầu học sinh thực hiện, quan sát trạng thái, màu sắc.
Dự đoán phản ứng có xảy ra khôngg, lý do. Quan sát mô tả hiện tượng, giải thích hiện tượng. Viết phương trình hóa học.
+ Giáo viên hoặc học sinh làm thí nghiệm kiểm chứng, đối chứng trong đó yêu cầu học sinh nêu hiện tượng thí nghiệm.
+ Giáo viên chỉnh sửa kết luận, nhận xét, bổ xung kiến thức cho học sinh.
c. Sử dụng thí nghiệm theo phương pháp nêu và giải quyết vấn đề.
Khi thí nghiệm được dùng để tạo tình huống có vấn đề đưa học sinh vào trạng thái tâm lý có quá trình biến mâu thuẫn khách quan của toán nhận thức thành mâu thuẫn chủ quan mà học sinh thấy cần và phải giải quyết được bài toán nhận thức đó.
Quy trình của phương pháp nêu và giải quyết vấn đề thường được sử dụng là:
+ Đặt vấn đề, giới thiệu thí nghiệm.
+ Tổ chức cho học sinh tái hiện lại kiến thức cũ có liên quan
+ Học sinh dự đoán thí nghiệm xảy ra, những thí nghiệm để kiểm tra những dự đoán đó.
d. Sử dụng sơ đồ, biểu bảng…
Sử dụng sơ đồ, hinh vẽ có các cách sau:
+ Sơ đồ, hình vẽ có đầy đủ chú thích: là nguồn kiến thức để khai thác thông tin
+ Sơ đồ, hình vẽ chưa đầy đủ chú thích để kiểm tra thông tin còn thiếu, yêu cầu học sinh điền thông tin.
+ Sơ đồ, hình vẽ dầy đủ nhưng các thông tin chưa chính xác, yêu cầu học sinh sửa những chỗ sai.
+ Sơ đồ, hình vẽ không có chú thích.
e. Sử dụng máy chiếu, bảng trong theo hướng tích cực.
Vận dụng vào dạy học
Qua lý thuyết ở trên, thấy rằng mỗi phương pháp đều có ưu điểm, nhược điểm riêng. Cần phải sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhau để có thể phát huy những ưu điểm và hạn chế nhược điểm đó. Mặc khác, trong một bài dạy không thể chỉ dùng một phương pháp duy nhất là có thể phát huy tính tích cực của học sinh. Nhưng kết hợp nhiều phương pháp mà không hợp lý sẽ không đạt được kết quả mong muốn. Sử dụng nhiều phương pháp không chỉ làm bài học hay hơn, học sinh thích thú học hơn mà còn phát triển nhận thức, kỹ năng của học sinh.
Hiện nay giáo dục chú trọng vào phát triển năng lực của học sinh chứ không đơn thuần là truyền thụ kiến thức. Mà muốn phát triển năng lực của học sinh thì trước hết học sinh phải thích môn học đó. Muốn vậy thì giờ học phải thu hút được học sinh tham gia. Việc sử dụng nhiều phương pháp trong dạy học sẽ góp phần làm điều đó.
Ở trương phổ thông hiện tại, các phương pháp hay được sử dụng trong bài dạy đó là:
+ Thí nghiệm kiểm chứng, đối chứng.
+ Dạy học nêu và giải quyết vấn đề.
+ Dạy học nhóm.
+ Dạy học theo phương pháp nghiên cứu.
Những phương pháp trên khi kết hợp với nội dung thích hợp sẽ phát huy được ưu điểm, phù hợp với trình độ kiến thức của học sinh.
Căn cứ vào chỉ đạo của Bộ giáo dục về đổi mới phương pháp dạy học, trong mỗi giờ dạy hóa học, tôi cố gắng thực hiện các phương pháp dạy học tích cực.
Cụ thể:
+ Bảng tuần hoàn và định luật tuần hoàn ở lớp 10:
Bảng tuần hoàn đã học ở lớp 9 nên các phương pháp có thể sử dụng là:
- Đàm thoại gợi mở ( là phương pháp chủ yếu)
- Thuyết trình nêu vấn đề ( về độ âm điện).
- Dạy học hợp tác (sử dụng khi dạy về ý nghĩa bảng tuần hoàn)
Ví dụ:
Hoạt động 1: chia lớp thành 4 nhóm (có thể lấy ngay các tổ làm nhóm).
Hoạt động 2: giao nhiệm vụ cho các nhóm:
Nhóm 1: nguyên tố A có ZA = 20 thuộc nhóm IIA, chu kỳ 4.
Nhóm 2: cấu hình của nguyên tố A là: 1s22s22p63s23p64s1
Nhóm 1 và 2: nguyên tố A có những thông tin gì mà em biết?
Nhóm 3: Nguyên tố A thuộc nhóm VA, chu kỳ IIA. Hãy trả lời câu hỏi sau: A là kim loại hay phi kim?
Hóa trị cao nhất của A với Oxi và hydro là bao nhiêu?
Công thức oxit cao nhất của A? Công thức của A với hydro? Oxit và hydroxit có tính axit hay bazơ?
Nhóm 4: So sánh tính chất của nguyên tố có Z=19 với nguyên tố có Z= 20?
Hoạt động 3: cho các nhóm thảo luận, làm việc tập thể trong khoảng 15 phút.(có hướng dẫn: mỗi các nhân làm việc độc lập khoảng 5 phút, sau đó thảo luận nhóm với ý kiến của cá nhân)
Hoạt động 4: các nhóm báo cáo kết quả thảo luận trước lớp. Các nhóm khác không hiểu chỗ nào có thể yêu cầu bạn giải thích.
Hoạt động 5: giáo viên tổng kết lại, cho học sinh ghi bài vào vở, giao bài tập nhà.
- Sử dụng tài liệu trong sách giáo khoa, yêu cầu học sinh nêu quy luật về năng lượng ion hóa, bán kính…
Ví dụ dạy bài 11 (chương bảng tuần hoàn: sự biến đổi một số đại lượng vật lý của các nguyên tố hóa học)
Yêu cầu học sinh quan sát bảng 2.2 (năng lượng ion hóa thứ nhất). Em hãy nhận xét trong một chu kỳ, một nhóm giá trị năng lượng ion hóa thay đổi như thế nào?(tăng hay giảm? nhanh hay chậm?)
+ Sử dụng thí nghiệm theo phương pháp nghiên cứu kết hợp dùng phương pháp thuyết trình
Nghiên cứu phản ứng của kim loại đồng với dd axit sunfuric đặc nóng ( lớp 10)
- Ở mức độ cao: axit sunfuric loãng không tác dụng với kim loại đứng sau hidro trong dãy điện hóa. Vậy axit sunfurix đặc nóng có phản ứng dược với kim loại đồng không?
Học sinh sẽ trả lời như sau:
Không phản ứng được.
Có phản ứng sinh ra khí hydro.
Có phản ứng sinh ra khí oxi vì trong công thức có oxi
Có phản ứng sinh ra khí SO2 vì có gốc SO4 2-.
Giáo viên yêu cầu học sinh đưa ra những phản ứng chứng minh sự có mặt của các khí đã dự đoán.
Học sinh: Chứng minh sự có mặt của hydro: đốt cháy trong không khí cho ngọn lửa màu xanh.
Chứng minh có oxi: lấy tàn đóm hồng đặt trên miệng ống nghiệm.
Chứng minh có khí SO2: quỳ ẩm chuyển sang màu hồng
Học sinh tiến hành thí nghiệm để chứng minh giả thuyết trên, sẽ thấy giả thuyết có khí SO2 là hợp lý, dd sau phản ứng có màu xanh là của ion Cu2+
Từ đó đi đến kết luận: axit sunfuric đặc nóng phản ứng được với kim loại đứng sau hydro, sinh ra khí SO2
- Ở mức độ thấp: Đặt vấn đề như trên.
Giáo viên nêu cách tiến hành thí nghiệm, hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm ( học sinh phải quan sát hiện tượng gì: có khí bay ra, dd có màu xanh).
Yêu cầu học sinh mô tả thí nghiệm vừa làm.
Hướng dẫn học sinh giải thích, làm thí nghiệm kiểm chứng khí thoát ra.
Rút ra kết luận.
Tôi hay dùng ở mức độ thấp hơn vì trình độ của học sinh chưa thể thực hiện ở mức độ cao.
+ Có thể sử dụng phương pháp dạy học dự án trong điều chế rượu ( lớp 11).
Đề tài như sau: các em hãy nghiên cứu quy trình sản xuất rượu ở địa phương em, sản xuất trong phòng thí nghiệm, trong công nghiệp. Ưu điểm, nhược điểm của từng giai đoạn. Theo em, làm thế nào để tăng hiệu suất trong đời sống?
Khi ra đề tài như vậy, học sinh làm rất tích cực, sau một tuần nhiều báo cáo hay đã được trình bày trước lớp.
+ Sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa theo phương pháp thuyết trình nêu vấn đề.
Trong bài ankan (lớp 11, hình 5.4-clo hóa metan):
Metan đã học ở lớp 9: học sinh đã biết metan phản ứng với clo theo phương trình:
CH4 +Cl2 = CH3Cl +HCl
(Giáo viên nhắc lại kiến thức cũ của học sinh).
Quan sát hình trong sách, học sinh thấy clo không chỉ thế một nguyên tử H mà còn thế 2,3,4 nguyên tử H.
Hình 5.4 còn cho biết trạng thái của sản phẩm: thế một clo (CH3Cl) nhẹ nhất nên ở trên dd; thế hai clo (CH2Cl2) nằm trên mặt dd….
-Ví dụ sử dụng thí nghiệm theo phương pháp nghiên cứu: nhận biết gốc sunfat (lớp 10-nâng cao-hợp chất có oxi của lưu huỳnh)
Bước 1: Giáo viên nêu vấn đề và hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm, quan sát hiện tượng xảy ra khi:
+ Nhỏ dung dịch BaCl2 vào dung dịch Na2SO4
+ Nhỏ dung dịch BaCl2 vào dung dịch H2SO4
Học sinh tiến hành thí nghiệm và quan sát hiện tượng
Bước 2: Giáo viên yêu cầu học sinh nêu hiện tượng xảy ra, giải thích?
Học sinh: -Xuất hiện kết tủa trắng không tan trong axit mạnh
Giải thích: BaCl2 + Na2SO4 → BaSO4+ 2NaCl
BaCl2 + H2SO4 → BaSO4+2HCl
Bước 3: Giáo viên hướng dẫn học sinh tự rút ra kết luận về nhận biết ion sunfat: Thuốc thử BaCl2
Hiện tượng xuất hiện kết tủa trắng không tan trong axit mạnh.
-Sử dụng phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề.
Ví dụ thí nghiệm chứng minh tính dẫn điện của dung dịch (bài 1-lớp 11 nâng cao-sự điện ly).
Giáo viên hoặc yêu cầu học sinh lên bàn giáo viên biểu diễn thí nghiệm và yêu cầu học sinh nhận xét về hiện tượng bóng đèn sáng hay không sáng.
Giáo viên đặt vấn đề: tại sao các dung dịch axit, muối, bazơ dẫn điện làm cho bóng đèn sáng? NaCl rắn khan, dung dịch rượu, dung dịch đường… không làm bóng đèn sáng?
Học sinh vận dụng kiến thức về dòng điện đã học ở môn vật lý để trả lời: do trong dung dịch các chất axit, bazơ, muối có các tiểu phân mang điện tích được gọi là các ion. Các phân tử axit, bazơ, muối khi tan trong nước phân ly thành các ion. NaCl rắn khan, dung dịch rượu không phân ly ra ion.
Giáo viên hướng dẫn học sinh rút ra kết luận:
+ Dung dịch muối, axit, bazơ đều dẫn điện.
+ Các chất rắn khan: NaCl, NaOH và một số dung dịch đường, rượu, glixerol không dẫn điện.
Ví dụ thử nghiệm tính axit của phenol (bài 55-lớp 11 nâng cao-phenol)
- Giáo viên hướng dẫn học sinh tiến hành thí nghiệm như sách giáo khoa( giúp học sinh phát hiện vấn đề).
- Giúp học sinh nêu vấn đề: em hãy nhận xét hiện tượng thí nghiệm?
Học sinh: hiện tượng: ống A có hạt rắn phenol không tan, dung dịch ở dạng nhũ tương
Ống B dung dịch đồng nhất.
Như vậy phenol tác dụng với kiềm, chứng tỏ phenol có tính axit
- Giáo viên giúp học sinh giải quyết vấn đề
Giáo viên: căn cứ vào cấu tạo ta thấy phenol thể hiện tính axit
+ Ống nghiệm A ta thấy còn chất rắn là do phenol ít tan trong nước ở nhiệt độ thường
+ Ống nghiệm B dung dịch đồng nhất là do phenol tan hết trong dung dịch kiềm tạo thành muối tan trong nước”
C6H5OH + NaOH → C6H5ONa +H2O
Giáo viên đặt vấn đề tiếp: tính axit của phenol mạnh như thế nào?
Để trả lời câu hỏi này các em làm thí nghiệm sau?
Sục khí cacbonic vào dung dịch muối natriphenolat đựng trong ống nghiệm C. Quan sát hiện tượng?
Học sinh: hiện tượng: ống C dung dịch bị vẩn đục.
Giáo viên giúp học sinh giải thích: phenol có tính axit nên phản ứng được với dung dịch NaOH nhưng tính axit của nó yếu nên bị cacbonic đẩy ra khỏi dung dịch muối.( tính axit yếu hơn cả axit cacbonic).
C6H5ONa + H2O + CO2 → C6H5OH +NaHCO3
Giáo viên tổng kết: phenol có tính axit mạnh hơn ancol, nhưng tính axit của nó yếu hơn axit cacbonic. Dung dịch phenol không làm đổI màu quỳ tím.
- Sử dụng bài tập theo hướng tích cực:
Sử dụng bài tập để rèn kỹ năng tư duy cho học sinh
Ví dụ: lập công thức biểu diễn mối liên hệ giữa nồng độ phần trăm và nồng độ mol?
Bước 1: học sinh phải nhớ công thức tính nồng độ mol và nồng độ phần trăm:
C%= mct*100% /mdd (1)
CM=n/V (2)
Bước 2: học sinh nhận thấy mối quan hệ giữa mct với n (số mol)
n= mct /M (3)
Thay (3) vào (2) được:
CM = mct/(V*M) (4)
Bước 3: từ (4) ta rút ra mct=CM*V*M (5)
Thay (5) vào (1) ta sẽ có công thức biểu diễn mối liên hệ giữa nồng độ phần trăm và nồn độ mol như sau:
C%= CM*V*M*100%/mdd.(6)
Ví dụ trên giúp học sinh rèn tư duy toán học, mối liên hệ giữa hai công thức. Từ đó giúp cho việc làm toán trong hóa học tốt hơn.
Ví dụ về sử dụng bài tập thực nghiệm hóa học:
Hãy làm thí nghiệm hóa học xác nhận Cu hoạt động hóa học kém hơn Zn và Fe, nhưng hoạt động hóa họa mạnh hơn Ag? Trong phòng thí nghiệm có đầy đủ hóa chất và dụng cụ thí nghiệm.
Bước 1: Học sinh suy nghĩ tìn hiểu việc chứng minh kim loại hoạt động thì có những cách nào?
Cách 1: Kim loại tác dụng với hợp chất của kim loại kia (có thể dùng muối), có đẩy kim loại ra khỏi hợp chất hay không?
Cách 2: Cho hai kim loại tác dụng với cùng một hợp chất, sau đoso sánh.
Từ hai cách trên học sinh có thể lựa chọn. Chẳng hạn học sinh lựa chọn : Cho Zn, Fe, Cu tác dụng với dung dịch H2SO4
Cho Cu tác dụng với dung dịch AgNO3
Bước 2: Học sinh tiến hành thí nghiệm để chứng minh nhận định của mình
Bước 3: Đánh giá phương pháp giải.
- Ví dụ về bài tập kết hợp với thực tiễn hóa học:
Tại sao khi cho rượu vào nước thì hỗn hợp thu được có thể tích giảm so với tổng thể tích hai chất ban đầu?
Có thể giải thích: liên kết hydro mạnh giữa nguyên tử oxi tích điện âm của ancol và hidro tích điện dương của nước làm cho phân tử etanol và nước gần nhau hơn trong dung dịch so với các phân tử etanol-etanol, nước-nước ban đầu.
Kết luận: Sử dụng kết hợp nhiều phương pháp dạy học tích cực trong một giờ dạy một cách thích hợp sẽ đem lại hiệu quả mong muốn. Học sinh không chỉ hứng thú với tiết học, tiếp thu bài nhanh hơn mà còn có cơ hội thể hiện sự hiểu biết, khả năng tư duy, nói trước đám đông…,phát triển kỹ năng. Đó là mục tiêu của dạy học hiện đại
Phan Châu Luận @ 08:27 25/04/2012
Số lượt xem: 353
- Bản đồ tư duy - Phương pháp giáo dục hiệu quả (25/04/12)
- Một số phương pháp dạy học tích cực (25/04/12)





Các ý kiến mới nhất